Header Ads

Thị trường tiêu thụ xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

1. Thị trường tiêu thụ nội địa

Thị trường nội địa hiện đang chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu doanh thu của hầu hết các doanh nghiệp thủy sản (chưa tới 5%). Trong đó, phần lớn là doanh thu từ bán phụ phẩm (dầu cá, bột cá…). Dù đạt mức tăng trưởng cao ở một vài doanh nghiệp thời gian qua, nhưng hầu hết các doanh nghiệp thủy sản đều không chú trọng phát triển, mở rộng thị trường nội địa. Điều này là do giá bán ở thị trường nội địa thường thấp hơn giá xuất khẩu, trong khi các chi phí sản xuất, vận chuyển, bảo quản, quảng bá… vẫn khá cao. Ngoài ra, thói quen tiêu thụ thủy sản của người Việt Nam là các sản phẩm tươi sống từ các chợ lẻ, trong khi thế mạnh của hầu hết các doanh nghiệp thủy sản là các sản phẩm chế biến đông lạnh. Với loại sản phẩm tươi sống, các đầu nậu, tư thương có lợi thế hơn các doanh nghiệp xuất khẩu do tổ chức được hệ thống bán lẻ chặt chẽ. 

Theo dự báo của Trung tâm Tư vấn và Quy hoạch phát triển thủy sản, giai đoạn 2011 - 2020, giá trị thủy sản chế biến tiêu thụ nội địa sẽ tăng bình quân 5,37%/năm. Mức tiêu thụ trong nước năm 2015 được dự báo là 790.000 tấn, năm 2020 là 940.000 tấn. Trong đó, sản phẩm thủy sản đông lạnh chiếm trên 30%.

2. Thị trường tiêu thụ xuất khẩu

2.1. Tổng quan xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong gần 20 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ mức thấp 550 triệu năm 1995 đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%/năm và đã đạt 6,13 tỷ USD năm 2012. Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong năm nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu.


Với đặc trưng bờ biển trải dài và có hệ sống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản ở Việt Nam diễn ra khá sôi động, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu cũng khá đa dạng về chủng loại sản phẩm, với các sản phẩm từ nuôi trồng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn (hiện đã chiếm hơn 60%). Tôm vẫn tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu trong các mặt hàng thủy sản với kim ngạch 2,24 tỷ USD năm 2012. Trong đó, tôm sú đạt kim ngạch xuất khẩu 1,25 tỷ USD, giảm 12,6% so với năm 2011, điều này là do dịch bệnh EMS hoành hành mạnh trong năm 2012, khiến sản lượng tôm sú suy giảm mạnh, trong khi tôm chân trắng đạt 741 triệu USD, tăng 5,3% do xu hướng chuyển dịch sang nuôi tôm chân trắng nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của dịch bệnh EMS. Cá tra vẫn tiếp tục giữ vị trí thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu 1,74 tỷ USD năm 2012, giảm nhẹ 3,4% so với năm 2011. Xuất khẩu cá ngừ đạt kết quả khả quan nhất trong năm 2012 với kim ngạch đạt 569 triệu USD, tăng 50,1% so với 2011. Xuất khẩu các loài cá khác cũng tăng khá tích cực 21,1% so với 2011, đạt 887 triệu USD. Xuất khẩu mực và bạch tuột năm 2012 đạt 502 triệu USD, giảm 3,5%. Xuất khẩu nhuyễn thể hai vỏ giảm 4,8%, đạt thấp 78 triệu USD. Xuất khẩu cua ghẹ, giáp xác duy trì tăng nhẹ 5,9%, đạt 116 triệu USD.


Trong năm 2012, Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang 156 thị trường với tổng giá trị là 6,13 tỷ USD. Trong đó, 5 thị trường chủ lực là Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc đã chiểm 70% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu sang hầu hết các thị trường đều tăng trưởng chậm lại (trừ Trung Quốc vẫn duy trì tăng trưởng cao 20,5%), Đặc biệt, thị trường chủ lực EU bị suy giảm mạnh 14,6% do khó khăn kinh tế tác động mạnh đến nhu cầu tiêu thụ thủy sản của người dân khu vực này.


2.2. Xuất khẩu tôm

Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 92 thị trường với tổng giá trị là 2,24 tỷ đồng. Trong đó, 5 thị trường chủ lực là Nhật, Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc đã chiếm 83% kim ngạch xuất khẩu.


Nhật là thị trường đầy tiềm năng (do nhu cầu tiêu thụ tôm trên đầu người cao) với nhu cầu tập trung ở các dòng sản phẩm cao cấp, giá bán thường cao hơn các thị trường khác, uy tín thanh toán tốt (bình quân thanh toán trong 10-15 ngày). Tuy nhiên, rủi ro ở thị trường này là doanh nghiệp sẽ thường đối mặt với các rào cản kỹ thuật khắt khe về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Với đặc tính nuôi trồng ở Việt Nam, tôm thành phẩm thường dễ bị nhiễm các chất kháng sinh cấm theo qui định của Nhật Bản. Dù đến hiện tại vấn đề Ethoxyquin đã được khá nhiều doanh nghiệp khắc phục, nhưng rủi ro từ các “hàng rào kỹ thuật” ở thị trường Nhật luôn chực chờ các doanh nghiệp tôm Việt Nam.

Tương tự, Hàn Quốc cũng là một thị trường tiêu thụ lớn của ngành tôm Việt Nam, Thị trường Hàn Quốc có đặc tính gần như thị trường Nhật với nhu cầu chủ yếu ở các sản phẩm cao cấp, uy tín thanh toán tốt. Tuy nhiên, từ đầu năm 2013, Hàn Quốc cũng áp đặt việc kiểm tra 100% lô tôm của Việt Nam đối với chất kháng sinh Ethoxyquin ở mức 0,01 ppm. Điều này đã làm xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Hàn Quốc giảm mạnh 19,5% trong 4T/2013. Tuy vậy, hiện tại nhiều doanh nghiệp đã khắc phục được vấn đề Ethoxyquin khi xuất khẩu sang Hàn Quốc và tình hình đã có nhiều cải thiện hơn.

Mỹ là thị trường có nhu cầu lớn, uy tín thanh toán tốt (bình quân chỉ từ 25-35 ngày), nhưng áp lực cạnh tranh ở thị trường này rất cao với tôm từ các nước Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Ecuador… Ngoài ra, rủi ro thương mại từ các vụ kiện ở thị trường Mỹ rất cao. Hiện các doanh nghiệp tôm Việt Nam đang phải đối phó với hai vụ kiện ở Mỹ là vụ kiện chống bán phá giá (đã kéo dài từ nhiều năm trước) và vụ kiện chống trợ cấp của chính phủ (diễn ra từ cuối năm 2012). Theo kết quả sơ bộ đã được Bộ Thương Mại Mỹ (DOC) công bố: Thuế chống bán phá giá kỳ POR 7 cho các doanh nghiệp tôm Việt Nam tạm thời là 0%, trong khi thuế chống trợ cấp như sau: Minh Phát (công ty con của Minh Phú) 5,07%, Nha Trang Seafood 7,05%, các doanh nghiệp tôm khác 6,07%. Kết quả chính thức cuối cùng của hai vụ kiện này sẽ được DOC công bố vào khoảng tháng 8-9/2013 

2.3. Xuất khẩu cá tra

Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu cá tra sang 142 thị trường với tổng giá trị đạt 1,74 tỷ USD. Trong đó, 3 thị trường chính là EU, Mỹ và Asean đã chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu.


EU là thị trường truyền thống xuất khẩu cá tra của Việt Nam. Trong năm 2012, do khó khăn về kinh tế, nhập khẩu cá tra của EU đã giảm mạnh 19,1%. Nhập khẩu thủy sản của EU chủ yếu từ các nước như Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Ba Lan… Giá xuất khẩu cá tra sang EU thấp hơn Mỹ (bình quân từ 2,1 -2,7 USD/kg so với mức trên 3 USD/kg của thị trường Mỹ). Hiện tại, người tiêu dùng EU đang có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm có chứng nhận ASC (với giá cao hơn khoảng 10-15% so với sản phẩm thông thường). Do đó, đây sẽ là yếu tố sàng lọc mạnh các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU, cơ hội sẽ chủ yếu tập trung vào những doanh nghiệp lớn đầu tư bài bản các vùng nuôi theo chuẩn ASC (như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Nam Việt, Việt An…).

Thị trường Mỹ là thị trường lớn thứ hai của “cá tra” Việt Nam sau EU với kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 359 triệu USD. Đây là thị trường có ưu thế thanh toán tốt, giá bán cao (bình quân từ 3,1 – 3,8 USD/kg). Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Mỹ luôn phải đối mặt với rủi ro từ vụ kiện chống bán phá giá. Ngày 14/03/2013, Mỹ đã ra phán quyết chính thức về mức thuế chống bán phá cá tra Việt Nam cho kỳ POR 8 (01/08/2010 – 31/07/2011) với nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể, mức thuế sau khi đã được DOC điều chỉnh tăng ngày 17/05/2013 sau quyết định ban đầu ngày 14/03/2013 như sau: Vĩnh Hoàn (VHC): 0,19 USD/kg, Việt An (AVF): 2,39 USD/kg, các doanh nghiệp khác có sản phẩm tương tự (Hùng Vương - HVG, Navico - ANV, Nha Trang Seafood, Bình An…): 1,29 USD/kg, An Phú: 1,37 USD/kg, Gò Đàng (AGD): 1,81 USD/kg, Docifish (công ty con của FDG): 3,87 USD/kg.

2.4. Xuất khẩu cá ngừ

Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu cá ngừ sang 96 thị trường với tổng giá trị đạt 569 triệu USD. Trong đó, 3 thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật đã chiếm hơn 72% kim ngạch xuất khẩu. Cá ngừ là mặt hàng có mức tăng trưởng khả quan nhất trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu với mức tăng năm 2012 là 50,1%.


2.5. Xuất khẩu mực và bạch tuột

Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu mực và bạch tuột sang 71 thị trường với tổng giá trị đạt 502 triệu USD. Trong đó, 3 thị trường chính là Hàn Quốc, Nhật và EU đã chiếm hơn 78% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu mực và bạch tuột gặp nhiều khó khăn trong năm 2012 do nguồn nguyên liệu đánh bắt trong nước bị thiếu hụt, doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt nhập khẩu nguyên liệu với các nước khác trong khi nhu cầu lại suy giảm tại những thị trường chính như Hàn Quốc, EU.


2.6. Xuất khẩu cua, ghẹ và giáp xác khác

Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu cua ghẹ và giáp xác khác sang hơn 15 thị trường với tổng giá trị đạt 116,1 triệu USD. Trong đó, 3 thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật đã chiếm hơn 84% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu cua ghẹ và giáp xác khác tương đối khả quan trong năm 2012, nhưng nguồn nguyên liệu nhìn chung vẫn bị thiếu hụt do nguồn khai thác đánh bắt ngày càng cạn kiệt.


Theo FPTS

No comments